Go Back   Diễn Đàn CLB Tình Nguyện Ngàn Hạc Giấy > CLB TÌNH NGUYỆN NHG > Ý tưởng & Sáng tạo > Ý tưởng chương trình Tình Nguyện

Ý tưởng chương trình Tình Nguyện Chia sẻ các ý tưởng về các chương trình Tình Nguyện mà chúng ta có thể thực hiện

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 03-04-2009, 01:00 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Chương trình niềm vui bất ngờ

Chúng ta đang có dự định làm chương trình Niềm vui bất ngờ trong năm nay
hôm nay đọc trên báo Tuổi trẻ cuối tuần có bài về xóm nghĩa địa ở Quận 8 rất phù hợp với tieu chí của chúng ta

Những mảnh đời nhấp nhô trên nghĩa địa - TRÍCH TỪ VITINF
Chỉ tính trong 6 nghĩa địa thuộc địa phận phường 15 quận 8 đã có tới hàng trăm hộ, đa phần là dân nghèo, dân nhập cư, chọn làm nơi “cắm dùi”. Ban ngày, chỉ còn trẻ con chơi tha thẩn và những người già yếu nằm một chỗ trong những căn chòi dựng tạm, che chắn bằng đủ thứ vật liệu kiếm được.

Nhưng tối đến, đó là một khu dân cư sống động. Ở đó, mỗi người là một số phận, một câu chuyện về những mảnh đời trôi dạt…
Nghĩa địa là sân phơi quần áo, củi, đất cát và là sân chơi của xóm nhập cư hẻm 361 (khu phố 4).

1. Phải luồn lách qua nhiều con hẻm ngoắt ngoéo, tôi mới vào được khu nghĩa địa ở tổ 65 khu phố 6 phường 15 quận 8. Trời chạng vạng tối, lũ trẻ con trong xóm nghèo vẫn bám riết lấy những ngôi mộ mới sơn. Đứa thì phụ mẹ phơi củi, phơi quần áo, đứa thì ngồi lên mộ chơi đồ hàng. Riêng bé Đỗ Thị Bích Vân thì lủi thủi trong chiếc lều cũ. Vân sống với cha từ nhỏ nhưng cha em nghiện cờ bạc nên phải bán nhà đi ở mướn. Đến khi không còn tiền mướn nhà nữa, hai cha con dắt nhau ra nghĩa địa. Trông bề ngoài, Vân lạnh lùng, già dặn so với tuổi 13. Tôi hỏi: - Sắp tới nếu được đi học lại, em có thích không? - Không mất tiền, thì đi.

– Ở “nhà” một mình, em có buồn và sợ không? - Riết cũng quen. Em muốn đi học mà không có đồ mặc.

– Ba em đâu? - Hổng biết!

– Em có phải nấu cơm không? - Lúc nào có gạo thì nấu…

Vân nói thế nghĩa là em… chẳng biết khi nào có gạo. Cha em, theo những người ở đây nói, thì bài bạc suốt ngày, thậm chí đã có lúc kiếm được việc làm thợ hồ nhưng cũng bỏ. Những ngày nhà không có gạo, Vân lại phải chạy sang nhà nội ăn chực. Theo Vân kể, khi về cái gò mả hoang vu này, em mất ngủ cả mấy tháng trời vì sợ ma. Gia tài độc nhất của hai cha con trong cái lều nát chỉ là chiếc phản gỗ cũ kỹ rộng chừng 1m và cái bếp dầu khô queo lâu ngày không khói lửa. Xung quanh, cỏ mọc um tùm, cao hơn cả người Vân, ếch nhái, côn trùng kêu rả rích. Vân lặng lẽ ngồi tựa lưng vào chiếc mộ kế bên, mắt buồn thê thảm. Chắc có lẽ, em nhớ mẹ, nhớ bạn bè. Kỷ niệm về những ngày cắp sách của em, chỉ dừng lại ở lớp 5.

2. Tổ 38 khu phố 4 là 1 trong 10 tổ dân phố nghèo nhất phường 15. Tổ 38 có đến 104 hộ sống trong và ven nghĩa địa. Xưa, người lớn, trẻ nhỏ ở đây sống bằng nghề lột giấy. 1kg giấy được 400 đồng. Một ngày muốn kiếm được 50.000 đồng thì phải lột 130 kg giấy. Nay, hết bìa cacton thì họ xé bao xi măng. Bụi quá, họ phải ra ngoài gò mả, che bạt lên, ngồi xé. Trẻ con trong xóm, lên 10 tuổi đã biết phụ người lớn kiếm tiền. Chẳng có đứa nào học hết lớp 5.

Tôi ghé căn lều của đôi vợ chồng già Nguyễn Văn Xoài và Nguyễn Phước Mộng Lan khi họ đang ăn trưa. Trên mâm cơm chỉ có một đĩa rau xà lách, một chén nước mắm và một bát nước lọc. Bà xúc cơm vào lá rau, lấy sợi hành quấn lại, chấm nước mắm ăn ngon lành, thỉnh thoảng lại đưa bát nước lên húp một hơi. Bà Lan kể: “Ổng mù cả hai mắt, hơn 70 tuổi rồi, có mần được gì đâu. Xin cơm chùa được bao nhiêu, tui nhường ổng. Phần tui, ăn bậy bạ qua ngày”. Khi được hỏi sao lại phải ở nghĩa địa? Ông Xoài cử động cái miệng móm mém, nói mà như mếu: “Nhà cửa đất cát không có, không ở đây thì ở đâu? Khi chết, ai đưa đi đâu cũng được. Giờ thoi thóp vầy là tốt rồi”. Nói xong, ông đưa miếng vải cũ lên chùi mắt. Đôi mắt lòa, nay càng đỏ au, sưng tấy...

Căn lều rộng 6m2 còn là nơi hàn huyên của bạn bè ông ở Hội người mù quận 8. Lâu lâu, họ lại tìm đến với nhau tâm sự, sẻ chia buồn vui của kiếp người. Đó là lúc căn lều có không khí ấm cúng nhất, át hẳn cái mùi ẩm mốc, tanh tanh mùi tử khí thường ngày…

3. Ông Nguyễn Văn Ngân, ở tổ 65 khu phố 6, là người có thâm niên ở nghĩa địa lâu nhất. Xung quanh nhà ông có đến gần 200 ngôi mộ, chồng lên nhau 2, 3 lớp từ 1945 đến nay. Ông coi việc ở trong bãi tha ma là một sự sắp đặt may mắn của số phận. “Dương gian âm phủ đồng nhất lý” (dương gian, âm phủ cùng một con đường), mình đừng có phá phách, bậy bạ, dơ dáy thì ông bà chẳng làm gì mình. Người sống mà phải sống chung với người chết thì còn sợ gì nữa…”.

Theo lời ông, hồi trước, đây là đất của gia đình ông, nhưng bà con chòm xóm có hậu sự, tìm đến, bây giờ thì không còn một mét đất trống. “Ở đời, không ai lột da sống lại như rắn được, ai cũng phải chết theo cái thuyết luân hồi. Đất chú, chú cho người ta nằm hết rồi, đến lượt chú chết, nằm đâu thì có thiên hạ lo”...

Chị Trần Thị Mỹ Hạnh, tổ trưởng tổ 38 cho biết: “Hơn 100 hộ nghèo ở đây phần lớn là dân nhập cư, hoặc cũng có hộ sống lâu năm được cấp số nhà. Bây giờ, khu gò mả nào cũng kín mít. Sống ở đó ô nhiễm, đường nước không vào được, vì đào lên sợ đụng… mả. Nhiều hộ được cấp nhà tình thương cũng không giám cất trên nền mộ. Thậm chí bà Lan, ông Xoài còn được hỗ trợ nhà cầu nhưng họ nhất định không nhận. Lều chỉ rộng 6m2, lắp nhà cầu thì chỗ đâu nằm ngủ, lại không có nước mà xối. Hai vợ chồng già có nhu cầu “đại, tiểu sự” chỉ còn biết rủ nhau ra… rạch Lào”.

Nhiều người gọi đây là “khu phố buồn” bởi người lớn thì lo kiếm sống, bỏ lại trẻ con với người già yếu “tự cung tự cấp” giữa bốn bề gò mả. Thanh niên trong xóm, phần nhiều là học ít, nhưng nhậu nhẹt, chơi bời thì có hạng. Chiều chiều, trên các ngôi mộ, từng tốp thanh niên choai choai “giải trí” bằng cách gầy bàn nhậu bằng bia lên cơn hoặc đế gò… mả. Người nằm, kẻ ngồi ngả ngớn lên thành mộ. Cũng có người chăm chỉ làm phụ hồ, xe ôm, hoặc đi làm mướn… kiếm đồng nào xào đồng đó. Không ít người bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo vào tệ nạn xã hội. Cách đây một tháng, Công an phường 15 vừa triệt phá một đường dây mua bán ma túy tại khu phố 4. Hai vợ chồng bị bắt, bỏ lại ba đứa con nheo nhóc đi làm phụ hồ, bán vé số. Cái vòng luẩn quẩn nghèo khó ấy lại bắt đầu ở thế hệ mới…!

Ông Lê Viết Thành, Chủ tịch UBMTTQ phường 15 quận 8 xót xa khi nói về số phận của những người nghèo ở xóm nghĩa địa: “Đây là phường nông nghiệp, nghèo và xa nhất quận 8; số hộ xóa đói giảm nghèo, phường còn chưa lo được, lại thêm những người nhập cư, tạm trú dài hạn ở các nghĩa địa. Vẫn biết họ sống như vậy là không đảm bảo vệ sinh môi trường, nhưng giải quyết như thế nào là một bài toán khó. Nếu làm nghiêm, dẹp những hộ lấn chiếm đất nghĩa địa thì không biết đưa họ đi đâu. Để thực hiện chính sách hỗ trợ di dời và ổn định cuộc sống cho họ thì phường không đủ sức…”.

Nỗi niềm của ông Thành, chúng tôi xin gửi tới quận, tới thành phố và cộng đồng xã hội.




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), bimbimbip (15-04-2009), dongocanh (03-04-2009), Duongnthao (07-04-2009), GuardianAngel (04-04-2009), huongviet_ht (03-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), SunFlower (11-04-2009)
  #2  
Old 03-04-2009, 01:04 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

D ko seach được trên mạng bài trên báo Tuổi trẻ cuối tuần, bài đó viết khá chi tiết về thân phận các em nhỏ
địa chỉ chính xác là bên dong kênh Rạch lào, Khu phố 4, phường 15, quận 8




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Old 03-04-2009, 01:06 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

Và một địa chỉ khác chúng ta có thể quan tâm
Xóm nghèo nghệ sĩ yêu nghề

Mỗi xóm nghệ sĩ có khoảng 15 hộ nhưng là một thế giới thu nhỏ. Dù sân khấu cải lương, tuồng cổ bao năm qua gặp khó khăn, người dân ở đây vẫn một lòng một dạ với nghề hát
Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi khi đến với những xóm nghệ sĩ nghèo này là nhà nào cũng có một dàn giáo bằng tre dùng để phơi trang phục. Tiếng búa nện thình thịch của bác thợ rèn kiếm, giáo hòa với tiếng trống phách, đàn ca của đám trẻ con đang tập tành nghề hát. Nhịp sống êm ả, bình lặng vẫn diễn ra mỗi ngày ở những xóm nghệ sĩ nghèo này. Họ không mơ ước gì hơn là được làm nghề, được sống với sân khấu.

Ngôi nhà chung của nhiều thân phận

Xóm thứ nhất có tên gọi là Nghĩa địa nghệ sĩ. Chẳng ai hiểu vì sao họ đặt tên xóm nghe ớn lạnh đến thế. Qua tìm hiểu mới biết khu Âu Dương Lân, quận 8 - TPHCM có Viện Dưỡng lão nghệ sĩ, nơi có vài ngôi mộ mà chủ nhân là đào kép hát thuở xa xưa. Người dân trong làng này lớn lên bên cánh gà sân khấu. Đời sống hát đình, hát chợ đã cho họ nhiều kinh nghiệm đối đầu với gian khó. Làng thứ hai là đình Cầu Quan, hay còn gọi là đình Thái Hưng nằm trên đường Yersin, quận 1 được xây dựng cách đây hơn 70 năm. Tuy chỉ là một khu phố nhỏ nhưng đã nuôi dưỡng biết bao thế hệ nghệ sĩ hát bội và cải lương tuồng cổ.

Từ những tên tuổi vang bóng một thời như: Minh Tơ, Khánh Hồng, Đức Phú, Thành Tôn, Năm Bửu, Bảy Sự, Huỳnh Mai... đến thế hệ thứ hai gồm: Xuân Yến, Thanh Tòng, Thanh Loan, Trường Sơn, Công Minh, Minh Tâm, Bạch Lê, Bạch Lựu, Bạch Long... đều xem đình Cầu Quan là ngôi nhà chung, nơi cưu mang bao thế hệ nghệ sĩ sống bằng nghề hát. NSƯT Thanh Tòng kể: “Mái đình này là nơi anh chị em tôi lớn lên, là nơi che giấu cán bộ Việt Minh, cưu mang những người trốn lính Sài Gòn. Bà nội tôi năm 18 tuổi đã cùng với ông nội tôi là bầu Nguyễn Văn Thắng lập gánh hát, trôi dạt từ lục tỉnh lên đến khu đất này lập nghiệp. Bao nhiêu năm qua dù sân khấu có gặp khó khăn, người dân trong xóm nghệ sĩ này vẫn một lòng một dạ với nghề hát”.

Xóm thứ ba ở đình Cầu Muối, quận 1 - TPHCM. Nơi đã từng có một sân khấu biểu diễn hằng đêm với nhiều đào kép trứ danh một thời. Một số nghệ sĩ sống ở đây đã sáng lập ra Đoàn Cải lương tuồng cổ Huỳnh Long ngày xưa.

Sống nhờ nghề làm áo, mão, cân, đai

Nghề của cư dân ba xóm này đều dính líu đến sân khấu. Ban ngày họ làm đạo cụ, hia, mão, có nhà may trang phục sân khấu, giữ trẻ em cho người lớn đi... đóng phim. Điều thú vị là người dân của ba xóm này đều thành thạo việc làm phim vidéo cải lương. Bất kể một đoàn phim nào cần người làm quân sĩ, tì nữ, hậu đài hoặc nhắc tuồng là có ngay người của ba xóm tiếp ứng. Tuy mỗi xóm chỉ có khoảng 10 đến 15 hộ nhưng công việc của những người dân ở đây là một thế giới thu nhỏ. Buổi sáng, thay cho những câu chào, họ hỏi và trả lời nhau rất trào lộng: “Hôm nay anh lấy vé đi nước nào?”... Người láng giềng trả lời: “Chiều nay tôi sang Ấn Độ, tối lại qua Nhật (tức là diễn tuồng chuyện Ấn Độ, Nhật)”. Còn ở xóm Nghĩa địa nghệ sĩ, có ngày cả xóm chỉ toàn là con nít vì người lớn bận đi đóng phim. Nhà ông Tư chịu trách nhiệm nấu cơm cho đám con nít cả xóm ăn.

Cư dân ở đây có vẻ bằng lòng với đồng lương mình làm ra, chỉ nửa ngày lao động ngoài nắng họ đã có tiền đi chợ. Một vai quân sĩ trong vở cải lương vidéo quay cả ngày được 120.000 đồng, quay đêm được bồi dưỡng thêm 50.000 đồng/người. Còn số đông diễn viên gọi dạ, kêu ớ được trả lương một buổi từ 20.000 - 30.000 đồng/người. Nghề may trang phục khấm khá hơn, một bộ áo mão dành cho hoàng hậu hơn cả triệu đồng, nhưng vốn đầu tư ít, chỉ tốn công may. Một miếng mắt gà, kim tuyến có khi làm mất cả tuần lễ.

Ở xóm Nghĩa địa nghệ sĩ có chú Ba Khương, quê ở Bình Định. Từ nhỏ sống với làng tuồng nên chú có nghề rèn đạo cụ. Năm 23 tuổi, chú theo một đoàn hát vào Sài Gòn và sống bằng nghề này. Đầu tiên chú theo gánh Tuấn Sĩ - Nhị Nương, rồi Nguyệt Yến của ông bầu Ba Tẹt và cuối cùng dừng chân ở Sài Gòn, chọn đoàn Khánh Hồng - Minh Tơ để làm hậu đài. Vợ của chú, thím Ba bán sinh tố, khi cần có những vai bà lão, thím cũng bỏ bán một buổi để “đóng phim cho vui”. Hơn 40 năm theo nghề, gương mặt của chú thím Ba đã quen thuộc với các đoàn làm phim. Chú đóng nhiều phim đến nỗi không nhớ tên bộ phim nào, chỉ biết khi đạo diễn nào cần những vai đằng đằng sát khí, những vai ông lão lưng khòm là tìm đến chú.

Nghề hát ở đây là sự tiếp nối vô tận

Những năm qua khi sân khấu khó khăn, gia đình chị Tư Lành ở xóm Nghĩa địa nghệ sĩ quận 8 phải đi bán máu để có tiền chữa bệnh cho con gái. Hiện nay, gia đình chị đã đỡ vất vả vì các con đã lớn. Ban ngày đi học văn hóa, ban đêm đi nhắc tuồng cho các sân khấu. Ở xóm đình Cầu Quan, nơi có đoàn Đồng Ấu Bạch Long hoạt động 10 năm qua, chỉ với sàn diễn bê tông cũng là cả một thế hệ nghệ sĩ trẻ đang vươn lên để khẳng định nghề hát. Đa số các diễn viên trẻ ở đây đều là con em của ba xóm nghệ sĩ trên, ngoài những tên tuổi đã có chỗ đứng trong lòng khán giả như: Vũ Luân, Trinh Trinh, Tú Sương, Quế Trân, Thanh Thảo, Tâm Tâm, Chinh Nhân, Trường Hải, Bình Tinh, Chấn Cường, Ái Hằng... còn có các em Hải, Long, Thành, Lâm... đã chọn nghề hậu đài, chuyên trị các vai quần chúng. Nghệ sĩ Bạch Long nói: “Ba tôi- NSND Thành Tôn - sinh thời đã dạy, muốn sống bền với nghề thì người nghệ sĩ không ngại học những sở đoản, đó là những ngón nghề phục vụ cho sân khấu. Do đó việc làm mão, làm hia, đạo cụ sân khấu tôi đều dạy cho các em để các em tự lực làm ra những mũ mão, trang phục, đạo cụ cho mình”.

Ở xóm đình Cầu Quan cũng thế, các con của chị Kim Phượng, chị Chín, anh Minh Long đều hết sức nhanh nhẹn trong việc làm trang phục. Họ tương trợ, giúp đỡ cho nhau từng cây kim, hộp keo, nhờ vậy ba xóm nghệ sĩ này mấy mươi năm qua vẫn sống chan hòa, đùm bọc và góp phần duy trì nghề hát như một sự tiếp nối vô tận.

Thương yêu, đùm bọc vì nghề

Trong xóm đình Cầu Quan ấm áp tình người này có gia đình cố nghệ nhân Bảy Đực, một tay trống siêu đẳng của làng hát bội, có thể đánh trống liên tục từ buổi chầu thứ nhất đến buổi chầu rạng sáng ngày hôm sau mà vẫn khí phách, nhộn nhịp. Bác có 7 người con, tất cả đều sống đùm bọc trong xóm này. Các con của bác có anh Trường Quang chuyên làm đạo cụ. Từ con ngựa, con trâu cho đến những binh khí phức tạp như siêu, giáo, mã tấu, xích... Có món giá lên tới bạc triệu, có món chỉ có vài mươi ngàn nhưng anh vẫn dồn hết tâm trí vào, vì với anh nó là kỷ vật của riêng mình. Còn các chị Cẩm Hương, Cẩm Tâm, Cẩm Thanh chuyên về hóa trang và làm mũ mão, cân đai cho sân khấu tuồng cổ. Chị Kim Duyên, ban đầu chỉ làm cho các đoàn phim, nay đã trở thành cộng tác viên hóa trang cho Đài Truyền hình TPHCM. Còn 2 nghệ sĩ Trường Sơn, Thanh Loan (ba mẹ của Tú Sương - HCV Triển vọng Trần Hữu Trang 1995) ngoài nghề hát còn làm đạo diễn, dạy vũ đạo, võ thuật cho các đoàn. Hàng xóm thân thiết của họ còn có ông Ba Phan Thiết (tức ông Nguyễn Văn Lắm, quê ở Phan Thiết) cũng mê nghề hát mà trôi dạt vào Sài Gòn lập nghiệp. Một tay ông đã làm trưởng ban dàn cảnh cho ba đoàn, từ hát bội Vĩnh Xuân cho đến Bầu Thắng, Minh Tơ. Nghèo nhất trong xóm đình Cầu Quan là “ngôi nhà” của nghệ sĩ Chấn Đạt nằm xiêu vẹo trên sàn diễn đã cũ kỹ của rạp trong đình. Bao năm qua, khi sân khấu khốn đốn, chị Tư - vợ anh - quay sang nghề bán cháo trắng ở đầu hẻm, còn anh và đứa con trai (bé Chấn Cường- diễn viên nhí nổi tiếng với bộ phim Chú bé có tài mở khóa) vẫn sống với nghề bằng niềm say mê cháy bỏng.




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), Duongnthao (07-04-2009), huongviet_ht (03-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), SunFlower (11-04-2009)
  #4  
Old 03-04-2009, 01:09 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

Xóm đẻ “chui”

TT - Con vừa lọt lòng được ba ngày, người mẹ đã ẵm nó trốn viện để khỏi đóng viện phí. Thế là đứa trẻ không có giấy chứng sinh nên không thể làm giấy khai sinh và thất học. Có hàng chục đứa trẻ ở khu phố 5, P.10, Q.8, TP.HCM rơi vào hoàn cảnh như thế.




Con hẻm dẫn vào xóm đẻ “chui” - Ảnh: Đ.N.P.


“Thôi mà, ở đây tùm lum người, kể chi chuyện đó, dị lắm!” - chị Lê Thị Cẩm Nga, 28 tuổi, nhà ở tổ 85, cười lảng tránh rồi ậm ờ khi nghe có người đề nghị kể lại cách mình trốn viện sau khi đẻ. Tất cả phụ nữ đẻ “chui” ở tổ 85-86, khu phố 5 đều ngại ngùng như vậy khi nhắc đến chuyện tế nhị đó. Họ biết đẻ “chui” là xấu hổ, nhưng dường như đó là cách duy nhất để những đứa con được sinh ra an toàn trong tình cảnh cha, mẹ chúng nghèo rớt mồng tơi.

Đẻ xong, ôm con... “lủi”

Đường hẻm vào xóm đẻ “chui” bé tẹo, giữa trưa nắng mà hẻm nhập nhoạng như trời đã sang chiều. Nhà cửa người dân ở đây chắp vá và nằm xúm xít nhau ven rạch. Dưới rạch, dòng nước đen kịt. Tương lai của những đứa trẻ được đẻ “chui” trong khu phố này cũng mù mịt, đen đúa không thua gì màu nước.


Bán vở của con để chi tiêu

Bà Hoàng Ngọc Loan kể: “Rút kinh nghiệm những lần trước, bây giờ mỗi khi đi phát sách vở cho mấy em nhỏ ở khu này, chúng tôi chỉ phát vài cuốn chứ không phát một lần cả chồng gồm 20 cuốn nữa. Vì phát hôm trước thì hôm sau bố mẹ các em đã đem cả chồng vở đi bán để chi tiêu”.

“Năm 2005, tui chuyển dạ con bé út, bụng đau quằn quại. Mẹ tui đưa tui vào Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Q.5. Sau ba ngày con út được sinh, canh khoảng giữa trưa bảo vệ bệnh viện nghỉ đi tuần, tui liền phủ chiếc áo lên đầu để che mặt, còn mẹ tui cầm gói quần áo, chúng tui lủi ra cổng bệnh viện rồi về thẳng nhà” - sau một lúc ngần ngại, cuối cùng chị Lê Thị Cẩm Nga thì thầm kể lại “thủ thuật” đẻ “chui” của mình.

Theo lời chị, sau khi sinh, chỉ cần ba ngày nằm tịnh dưỡng tại bệnh viện là hồi sức nên ôm con trốn viện khỏe re. Chị có bốn con, đều là gái. Chỉ có đứa đầu tiên nay đã 10 tuổi là đẻ có phí, ba bé còn lại toàn đẻ “chui”. “Mỗi lần đẻ chỉ mất 300.000-500.000 đồng nhưng tiền ăn còn không có, lấy tiền đâu lo chuyện đẻ” - chị Nga nói như phân bua.

Sinh bé út được vài tháng, chồng chị Nga đi nhậu và đâm chết một người bạn nên lãnh án 14 năm tù. Thế là căn nhà ọp ẹp ven rạch của chị phải bán để nuôi bốn đứa con. Hiện chị và đàn con nhỏ sống lay lắt bằng nghề giặt đồ mướn và ở đậu nhà người cậu ruột gần đó.

Mén chị, Mén em, Mén lùn là tên của ba bé gái được đẻ “chui” của chị Nga. Cũng trong tổ 85, cách nhà chị Nga vài bước chân có thêm ba bé trai được đẻ “chui” và mang những tên kỳ lạ: Cu Nguyên (7 tuổi), Cu Bể (6 tuổi), Cu Lành (5 tuổi). Đây là “xêri đẻ năm một” của chị Lâm Trần Thị Thúy, 28 tuổi. Bà Nguyễn Thị Thân, tổ trưởng tổ 85, cười buồn: “Đẻ “chui”, không làm được giấy khai sinh nên tên của bọn nhỏ cũng trời ơi quá”.

Bà Thân bảo hầu hết những người mẹ đẻ “chui” trong xóm này đều chọn Bệnh viện Nguyễn Tri Phương để sinh nở. Theo lời họ, bệnh viện này gần nhà, bảo vệ canh phòng tương đối thoáng nên “chui” dễ.



Chị Lê Thị Cẩm Nga và những đứa con được đẻ “chui” trong căn nhà ọp ẹp của mình - Ảnh: Đ.N.P.


Giấc mơ đến trường

Cũng ở tổ 86, khu phố 5, gần nhà chị Trương Thị Đẹp - người đẻ “chui” sáu lần - có thêm hai căn nhà của hai người mẹ đẻ “chui” khác. Đó là chị Nguyễn Thị Ánh Hồng và chị Trịnh Thị Hiếu. Chị Hồng có năm lần đẻ thì ba lần trốn viện phí. Chị Hiếu có năm lần đẻ thì trốn viện cả năm. Như vậy, chưa đầy 300 bước chân đi từ tổ 85 sang tổ 86 đã có năm căn nhà đẻ “chui”. Khi chúng tôi đặt câu hỏi: “Chính xác có bao nhiêu người mẹ đẻ “chui” sống trong khu dân cư nghèo này?”, bà Hoàng Ngọc Loan, phó chủ tịch UBND P.10, xác nhận phường đã nghe chuyện nhiều hộ đẻ “chui”, hiện đang tiến hành một đợt khảo sát để thống kê đầy đủ.

Cũng với câu hỏi trên, một người dân sống ở khu dân cư này dang rộng hai cánh tay trả lời: “Đẻ “chui” hả? Xóm này bao la luôn, tính toán sao hết!”.

Bà Nguyễn Thị Thân than thở: “Cũng vì đẻ “chui”, không làm được giấy khai sinh nên mấy đứa nhỏ không đi học được”. Đúng như lời bà, gần 20 đứa con của năm người đàn bà mà chúng tôi gặp ở đây chẳng có em nào thông thạo mặt chữ.

Con đầu 22 tuổi của chị Trương Thị Đẹp bị thất học phải kiếm sống bằng nghề phụ hồ. Con gái kế phụ mẹ bán xôi, bốn đứa nhỏ chỉ ở nhà. Nhiều em khác trong xóm này, cũng vì đẻ “chui”, không được đến trường nên suốt ngày tụ tập, bắt chước người lớn lập sòng bài và sát phạt nhau bằng trò đỏ đen.

Bà Hoàng Ngọc Loan cho biết mặc dù người mẹ trốn viện nhưng phần lớn các bệnh viện vẫn còn lưu lại giấy chứng sinh, nên chỉ cần nộp lại số tiền đã “chui” là nhận được giấy, kể cả những trường hợp sinh nở cách đây đã lâu.

Theo bà Loan, thời gian sắp tới sau khi nắm số lượng cụ thể, nếu người dân không có tiền để “chuộc” lại giấy chứng sinh thì bằng nhiều cách UBND phường sẽ can thiệp, tạo điều kiện để các trẻ có giấy khai sinh và được đến trường. Trong trường hợp gia đình không có tiền để các em đi học, UBND phường sẽ vận động để các em vào học các lớp học tình thương, lớp học bổ túc văn hóa ban đêm.

Cũng theo bà Loan, công tác vận động trẻ đến trường ở địa bàn P.10 cực kỳ vất vả vì cái nghèo, nhiều em ham làm hơn ham học. Chỉ riêng năm 2008 trên địa bàn phường có đến 19 em bỏ học, phần lớn nghỉ ngang khi học vừa xong lớp 5, lớp 6.

Mới đây, UBND TP đã có chủ trương xóa trắng hàng ngàn căn nhà ven rạch Ụ Cây ở quận 8, trong đó có xóm đẻ “chui”. Theo thông tin từ lãnh đạo UBND Q.8, rất có thể trong tháng 6 hoặc tháng 7 năm nay việc giải tỏa sẽ được tiến hành, các hộ dân sẽ định cư ở nơi khác. Vì vậy, UBND P.10, Q.8 nếu không kịp giải quyết vấn đề giấy khai sinh cho trẻ đẻ “chui” ở khu vực này thì công việc này về sau càng phức tạp. Và rất có thể hàng chục em này sẽ vĩnh viễn đánh mất quyền công dân và tan vỡ giấc mơ đến trường.




Chị Trương Thị Đẹp và đứa con được đẻ “chui” của mình - Ảnh: Đ.N.P.
Đẻ “chui” 6 lần

Đứng đầu số lần đẻ “chui” ở khu phố 5 có lẽ là chị Trương Thị Đẹp, 46 tuổi, nhà ở tổ 86. Chị có tám con thì sáu đứa khi đẻ không đóng một đồng viện phí. “Đẻ chui ở Nhà thương Quế Mai một đứa, Bệnh viện Hùng Vương một đứa, còn tất tần tật là ở Bệnh viện Nguyễn Tri Phương” - chị Đẹp nhẩm tính. Tỏ ra rành rẽ, chị giảng giải: “Bình thường thì ba ngày là mẹ và con đủ sức khỏe để trốn viện, nhưng con đầu lòng phải để sang ngày thứ tư mới trốn được, chứ ẩu là chết con như chơi”. Vừa dứt bốn tiếng “chết con như chơi” thì khuôn mặt chị bỗng tối sầm lại.

Cách đây 16 năm, chị hạ sinh một bé trai. Vẫn như những lần đẻ “chui” trước, đẻ xong được ba ngày chị lén lút ra về. Trên tay chị đứa con đỏ hỏn, nhỏ xíu. Trong lúc trốn viện, có lẽ bé bị sốc nên chỉ vài ngày sau khi về nhà thì chết.

“Mặc dù không làm được giấy khai sinh nhưng tui vẫn đặt tên cho tám đứa con rất đàng hoàng. Đứa lớn nhất là Nguyễn Hoài Phương sinh năm 1987, nhỏ nhất là Nguyễn Huệ Tâm sinh năm 2001. Tên đẹp nhất là Nguyễn Huy Hoàng, tên của đứa con đẻ “chui” bị chết. Nếu còn sống, năm nay nó đã 16 tuổi” - chị Đẹp nói xong rồi chép miệng, nuối tiếc.

Chị Đẹp bán xôi ở chợ, chồng chị đi phụ hồ. Bữa cơm trong căn nhà chật chội, đông đúc của chị thì rau luôn là món chính. Cái nghèo không chỉ giết chết một đứa con mà còn âm thầm cướp thêm một đứa con khác của chị. “Nghèo quá không nuôi nổi, để nó ăn sung mặc sướng, tui tặng nó cho người nước ngoài rồi. Nó năm nay đã 12 tuổi” - chị Đẹp nói rõ ràng, chậm rãi như để đập tan sự hoài nghi của mọi người rằng vì cái nghèo chị đã bán con lấy tiền.



ĐOÀN NHƯ PHONG




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), Duongnthao (07-04-2009), huongviet_ht (03-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), SunFlower (11-04-2009)
  #5  
Old 03-04-2009, 01:12 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

Kể chuyện đồng bằng: Xóm mồ côi
TTCN - Buổi trưa tháng hai nắng như dội lửa trên đầu. Từ thị xã Bạc Liêu tôi cưỡi xe lần dò về đến “xóm mồ côi” cũng chỉ khoảng hơn 30km thôi mà phải trải qua một đoạn đường rất gian nan.

Hết lộ làng gồ ghề đến kênh thủy lợi đầy ổ gà, đường cứ quanh co và chốc chốc lại gặp cầu cây lắt lẻo. May là mùa hạn chứ nếu mùa mưa thì không có cách gì đến đây cho được.

Xóm này đúng là xóm “sơn cùng thủy tận”. Tôi gọi nó là “xóm mồ côi” bởi nó nằm mồ côi giữa một khu rừng chồi bạt ngàn, ngó ra một chút là biển Đông mênh mông, sau lưng là cánh đồng vuông tôm, ruộng muối bao la, muốn đi qua xóm khác phải vượt gần 5km; thứ nữa là vì khu dân cư này ở “lậu” trên đất rừng phòng hộ, mà theo qui định của công an thì không thể làm hộ khẩu, mà đã không có hộ khẩu thì chính quyền địa phương làm sao quản lý? Thế là họ cứ sống như dân mồ côi!

Một điều rất lạ là ở vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu có rất nhiều xóm mồ côi như thế. Các ngành chức năng tổng kết có đến 614 hộ với 2.053 khẩu, tập trung chủ yếu là vùng ven biển huyện Hòa Bình. Dân đến đây từ tứ xứ, cả trong Nam lẫn ngoài Bắc, từ xã khác, huyện khác đến nhưng họ có chung một hoàn cảnh là... nghèo khổ.

Cái xóm mồ côi mà tôi vừa đặt chân đến gồm trên 40 căn hộ, chủ yếu là nhà lá cây rừng cất rất tạm bợ và xiêu vẹo. Xóm nằm trên một kênh thủy lợi thuộc lãnh địa của kiểm lâm Bạc Liêu. Xóm không có tên trên bản đồ hành chính cũng như ở ngoài đời, người ta lấy mương Bốn (tên của kênh thủy lợi) để gọi nó.

Xóm Mương Bốn là khu dân cư “năm không”: không hộ khẩu, không đường, không điện, không trạm xá, không trường học. Một con số không đáng phải kể thêm là không chợ búa. Tôi ghé nhà anh Tăng Út, sinh năm 1954, làm nghề “the” biển, mới thấy hết nỗi khổ của những người dân “sáu không” này.

Theo lời anh Út kể, đã lâm vào bước đường cùng họ mới về đây ở chứ cực khổ lắm. Đất ở đây là đất bãi biển nên rất thấp, vào những con nước rong, đặc biệt là con nước rong mông 3-10 âm lịch là đường sá, nhà cửa ngập hết. Lúc đó, xóm mồ côi như nổi trôi trên mặt nước. Có những nền nhà ngập 3-4 tấc, ba khía, cá đối... chạy xèn xẹt vào nhà. Tủ, giường, bàn ghế mục hết, đặc biệt là cột nhà chỉ 2-3 năm là mục, dân phải cất nhà lại. Còn mùa mưa thì muỗi như vãi trấu, trời chạng vạng là phải dọn cơm trong mùng ăn. Thế cho nên dịch bệnh, ghẻ lở hoành hành.

Đã là dân mồ côi thì không ai hướng dẫn vệ sinh, phòng bệnh. Thấy chúng tôi đến, nhiều người hiếu kỳ đến xem cũng phụ họa thêm rằng chưa bao giờ thấy ai đến đây vận động sinh đẻ có kế hoạch chứ đừng nói trị bệnh. Mỗi lần đổ bệnh là đến nhà bà Nhiều, đó là bà bán tạp hóa, thu mua hàng hải sản, cho vay tiền duy nhất ở xóm mồ côi.

Bà được xem là cái chợ, là ngân hàng của xóm. Bà Nhiều chỉ biết chữ nhấp nhem thôi mà làm cái việc cộng thuốc bán để điều trị bệnh cho cả xóm bởi không còn cách nào khác. Dân ở đây muốn đi lên trạm xá xã Vĩnh Thịnh phải đi hơn chục cây số. Đó là nói mùa hạn, chứ mùa mưa xóm mồ côi giống như một ốc đảo xa xôi bởi không thể về bằng xe hai bánh được nữa. Chính vì thế dân ở xóm mồ côi đẻ không thể tưởng tượng nổi.

Anh Tăng Út đang ngồi nói chuyện với tôi đây có đến chín đứa con. Còn chị vợ anh sinh đến 14 đứa. Thả tầm mắt quan sát chúng tôi thấy trẻ con mình mẩy sình đất, áo quần nhếch nhác chạy đầy cả xóm. Số các em được đi học đếm không đầy bàn tay. Chuyện này có lý do riêng của nó.



Cái dáng xiêu xiêu của ông già bẫy chim, một nhân chứng sống của vùng rừng, biển này cũng cô đơn như còn lại một mình trên Trái đất. Bất giác tôi ứa nước mắt, xúc động về sự mồ côi của dân xóm mồ côi, về tài nguyên của rừng, biển quê hương đã dần dần cạn kiệt.
Xóm mồ côi không có trường học, muốn đi học phải lội qua ấp Vĩnh Mới cách 5km để “học ké”. Cả xóm lại không ai có hộ khẩu, vì thế chẳng ai làm giấy kết hôn khi dựng vợ gả chồng. Đã không có giấy kết hôn thì không thể làm giấy khai sinh, mà bây giờ từ trường mẫu giáo cho đến trường đại học, trường nào cũng đòi giấy khai sinh cả.

Nhìn sắc diện của người ở xóm mồ côi có vẻ xác xơ, còi cọc quá, đặc biệt là có rất nhiều người đầu tóc rất dài, râu ria tua tủa... tôi buột miệng hỏi: “Ở đây không có dịch vụ làm đẹp à?”. Một chị khoảng hơn 30 tuổi đang nách con nhỏ mau mắn trả lời: “Làm gì có, đến hiệu cắt tóc nam còn không có nói chi đến uốn tóc, làm móng cho phụ nữ”. Thế là dân ở xóm mồ côi mất dần thói quen làm đẹp, trừ khi có đám cưới thì cực chẳng đã cô dâu mới lên ấp Vĩnh Mới cách 5km mà làm tóc.

Mọi dịch vụ, nhu cầu thiết yếu của đời sống ở xóm mồ côi chỉ được giải quyết ở cái tiệm hàng xén cỏn con của bà Nhiều. Nước sinh hoạt vào mùa khô cũng là một chuyện cực hình. Dân xóm mồ côi phải đi đổi nước từng thùng ở nhà bà Nhiều để nấu ăn, còn tắm thì lau qua quít cho xong chuyện. Tôi bất giác thảng thốt: sống như thế làm sao mà sống hả trời.

Trước mặt xóm mồ côi là vạt rừng đước, sau lưng là rừng mắm thâm thấp. Nghĩa là xóm mồ côi được đặt trong rừng phòng hộ - nơi mà lâm luật không cho phép tồn tại một khu dân cư. Có lẽ các nhà làm luật cũng thừa hiểu rằng nếu để cho dân sống lẫn lộn trong rừng phòng hộ thì trước sau gì họ cũng phá rừng.

Quả đúng như thế thật, lúc mới đến ấp Vĩnh Mới hỏi đường đi, chúng tôi đã chứng kiến nhiều người ở xóm mồ côi chở cây mắm to bằng bắp chân đem bán cho những người cất chòi canh tôm. Thấy tôi chăm chú hỏi nguồn gốc cây ở đâu, họ đánh trống lảng rồi chống xuồng đi. Đến các xóm mồ côi mới thấy người ta phá rừng một cách bạo liệt. Nhà của họ ngoại trừ lá dừa nước thì toàn bộ khung cột kèo đều được làm bằng cây rừng phòng hộ.

Nhà nào cũng chất một “cự” củi to với cây mắm, cây đước chỉ to bằng cẳng cái. Tất cả dụng cụ khai thác biển cũng được làm từ cây rừng. Sang hơn nữa, người ta bắc cầu cho xe hai bánh chạy qua được cũng từ cây rừng phòng hộ. Chưa hết, có nhà còn làm hàng rào bao quanh nhà bằng gỗ rừng phòng hộ. Một điều lạ lùng là sự xài sang cây rừng cấm lại diễn ra trước mũi của mấy ông kiểm lâm, vì trụ sở kiểm lâm chỉ cách đó một con kênh nhỏ (?).

Trong nhóm người hiếu kỳ đến xem các nhà báo ghé thăm, hỏi chuyện anh Út có một nhân vật rất đặc biệt, đó là ông Lê Văn Tám. Ông Tám năm nay vừa đúng 80 tuổi, đầu bạc trắng, người gầy như que củi khô của rừng phòng hộ. Tên tuổi ông hẳn hoi như thế mà cư dân ở đây và cả vùng phụ cận như Quành Tấn, Long Điền... đều gọi ông là ông Tám chim.

Người ta gọi ông như thế là vì ông làm nghề đánh bẫy chim biển bằng lưới từ năm 16 tuổi đến giờ. Đôi chân nhỏ xíu mà dẻo dai của ông đã sải hết cánh rừng này sang cánh rừng khác của vùng ven biển Bạc Liêu, Vĩnh Châu. Mấy người ở xóm mồ côi mách cho tôi biết rằng ông Tám chim nghèo rớt mồng tơi nhưng lại có đến bốn bà vợ, 17 đứa con. Nghe xong tôi muốn sụp xuống lạy ông mà bảo rằng: “Sư phụ ơi, con không thể hiểu nổi”.

Theo ông, đất địa này ngày xưa là một xứ sở đầy chim, đầy hạc. Sáng tinh sương ra mép biển là chim muông vỗ cánh ào ào như có bão đến. Mùa gió nam những đàn sấm, nhạn biển... từ tít tắp mù khơi bay về trú ngụ qua đêm ở cánh rừng mắm ven biển bạt ngàn. Ngày, chúng kéo ra bờ biển ăn cá ồn ào như vỡ chợ, bầu trời đầy chim cò chao lượn như một bức tranh thật sinh động.

Mùa gió chướng về đất trời khoáng đạt cũng là mùa của cót cồ, cót sẻ... kéo về. Những con cót cồ nặng cả ký lô. Bây giờ thì chim muông không còn bao nhiêu nữa. Ông Tám còn đi đánh lưới chim biển là vì cái máu mê đã ăn vào huyết quản của ông. Họa hoằn lắm mới có một con chim biển đâm vào lưới, vậy mà ông già cứ đi đánh lưới với những đêm thức trắng ngồi trên trang đước vừa đập muỗi như vãi trấu vừa căng mắt nhìn xem có con chim nào từ ngoài biển về ăn đêm không.

Ngày xưa rừng ở ven biển này là rừng nguyên sinh với những cây mắm to cả ôm người và chúng kéo dài đến vô tận, bạt ngàn.

Bãi biển Bạc Liêu ngày xưa cũng giàu tôm cá dữ lắm. Đến mùa trái mắm rụng, những bầy cá dứa nặng 5-7kg lội thành đàn vào ăn trái mắm và khi đã no thì chúng nổi lờ đờ trên mặt nước. Rồi không biết cơ man nào là cá, đặc biệt là cá con vì bãi biển là ổ đẻ của cá biển. Có thể nói biển là nguồn cung cấp cá con cho lục địa một cách hào phóng và tưởng chừng không bao giờ cạn kiệt.

Xứ Long Điền, Vĩnh Hậu, Nhà Mát... nổi tiếng cá kèo, tôm, cua... thì cũng do biển cung cấp nguồn tôm, cá con. Chính vì vậy, bãi biển Bạc Liêu là “đồng ăn” lý tưởng của các loài chim biển. Thế rồi giờ đây những di dân tự do đã “nhảy xổm” vào đánh bắt một cách bạo liệt ngay trên chiếc nôi sản sinh của tôm cá, ngay đầu nguồn cung cấp tôm cá cho lục địa.

Ông Tám dẫn tôi ra gần tấm lưới bẫy chim biển của ông khi thủy triều đã xuống, bãi biển trơ cát kéo dài thật xa. Ở đó đang có hàng ngàn con người với dụng cụ đánh bắt, đang chà đi sát lại, họ bắt tất cả những gì có thể ăn được, có thể bán được.

Một đứa trẻ đen nhẻm chạy xẹt qua trước mặt tôi để bắt một con sam biển chỉ bằng nắm tay của nó. Sam biển là loài giáp xác thịt rất ngon nhưng phải to cả ký thì mới có thịt, có trứng, đằng này... Chốc sau, một đứa trẻ khác lại bắt được một con đẻn biển chỉ bằng ngón tay út của tôi. Ông già Tám rên rỉ: “Người ta bắt tất cả sự sống ở đây, họ kết liễu sự sinh sản của biển”.

PHAN TRUNG NGHĨA




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), huongviet_ht (03-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), SunFlower (11-04-2009)
  #6  
Old 03-04-2009, 01:13 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

Những đứa trẻ xóm Lò Gạch
Đêm sâu hun hút. Những đứa trẻ nhem nhuốc, đi chân trần, đầu không nón, lưng còng xuống vì cõng bao đựng ve chai to hơn thân thể ốm từ từ đi vào trong hẻm tối, kết thúc một ngày mưu sinh... Chúng là cư dân nhỏ tuổi của xóm Lò Gạch

Từ làng đại học Thủ Đức (TPHCM), tôi hỏi đường về xóm Lò Gạch, ông Tiến, trưởng ấp Tân Lập, chỉ tay về phía Hồ Đá, nơi có gần 50 đứa trẻ của 41 hộ dân thuộc tổ 11, ấp Tân Lập và nhiều hộ dân khác quanh khu vực hồ đá, xã Đông Hòa, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương đang sinh sống.

Lớn lên nhờ rác

Dưới cái nắng gay gắt của buổi trưa tháng 7, cu Phi (12 tuổi, con của anh chị Doanh Út) với mái tóc vàng hoe khét nắng, mồ hôi nhễ nhại vẫn điềm nhiên ngồi trước sân nhà phân loại ve chai vừa nhặt được để bán. Mỗi buổi sáng, khi bạn đồng trang lứa cắp sách đến trường, Phi và những đứa trẻ xóm Lò Gạch lại vác trên vai những chiếc bao đến trước cổng từng gia đình có rác nhưng chưa được thu gom hoặc các công trình, lục kỹ từng bao rác hy vọng tìm được chút gì đó từ những thứ người ta bỏ đi. “Em gom lại khoảng 2, 3 ngày bán một lần, cũng được 30.000- 40.000 đồng đưa mẹ mua gạo”. Vừa lục bao rác, Bạch (7 tuổi) vừa kể khi tôi lò dò theo nó suốt một quãng đường dài.

Trong một con hẻm khác, Đẩu (15 tuổi) lưng trần, mặc chiếc quần đùi sờn cũ, chân không dép, trên vai quẩy chiếc bao rác khá nặng, vừa nhấn chân đạp một cách khó khăn chiếc xe đạp cà tàng xin được vừa huýt sáo một bản nhạc, trông rất yêu đời. Đẩu cho biết đoạn đường mà Đẩu và những đứa trẻ trong xóm thường lang thang, lui tới là các bãi rác quanh làng đại học, lên ngã tư Thủ Đức, qua cầu vượt Linh Xuân và vòng về đến nhà lúc trời đã tối mịt. Hỏi Đẩu mơ ước gì, em bảo: “Em từng mong có chiếc xe đạp để đi nhanh hơn, nhặt được nhiều rác hơn, có được tiền nhiều hơn. Giờ đã có xe, dù cọc cạch nhưng vẫn còn chạy được. Em chẳng mơ ước gì nữa”. Còn những đứa trẻ khác của xóm mà tôi có dịp gặp thì: “Em muốn thành siêu nhân cá mập”, “Em muốn làm cảnh sát”, “Em muốn làm công nhân”... Những ước mơ mà bất kỳ đứa trẻ nào cũng từng mơ ước, nhưng với các em xóm Lò Gạch, đường đến ước mơ đôi khi quá xa vời, bởi cho đến tận hôm nay, các em chỉ là những cư dân tạm trú của xóm không có bất kỳ giấy tờ gì, kể cả tấm giấy khai sinh.

Những cư dân “vô thừa nhận”

Từ các tỉnh miền Tây, cư dân xóm Lò Gạch tay trắng, lên TPHCM tìm kế sinh nhai và trụ lại nơi đây. Họ làm đủ thứ nghề, từ thợ hồ, đập đá đến làm mướn, làm thuê nhưng công việc không ổn định, ăn bữa trước thiếu bữa sau nên từ khi còn rất bé, những đứa trẻ của xóm đã buộc phải kiếm sống bằng nghề nhặt rác để phụ giúp cha mẹ. Sớm đi, tối về, cuộc sống chỉ quẩn quanh với việc ăn- ngủ- nhặt rác, những đứa trẻ cứ hồn nhiên lớn lên với những tên gọi rất quen thuộc, phổ biến và dễ nhớ như cu Tèo, cu Tí..., chẳng cần biết năm sinh, nơi sinh, họ tên gì. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc không có giấy khai sinh. Nói về chuyện này, anh Doanh Út (có ba đứa con sinh ra ở xóm Lò Gạch) kể: “Tôi cũng muốn làm khai sinh cho tụi nhỏ, ngặt là phải về miền Tây, nơi có hộ khẩu thường trú. Hồi sinh đứa đầu, tôi cũng về quê làm khai sinh cho con, nhưng chờ lâu quá, đành phải trở lên. Cuộc sống khó khăn, vậy là quên luôn”. Không chỉ ba đứa con anh Doanh Út mà cu Tèo, cu Tí (con của chị Dương Chinh) năm nay đã gần 5-6 tuổi, Thi (con của chị Nga) 14 tuổi, hay Tiểu Vân gần 10 tuổi... cũng không giấy khai sinh, không hộ khẩu.

Hệ lụy của việc này là gần 50 đứa trẻ ở độ tuổi từ 5 đến 15 không được đến trường. Khi được hỏi về việc học và làm giấy khai sinh cho trẻ em xóm Lò Gạch, ông Đinh Văn Hoàng, Chủ tịch UBND xã Đông Hòa, nói chung chung: “Do từ trước đến nay, các hộ dân ở đây từ các tỉnh miền Tây lên dựng lều sống tạm bợ nên cũng chưa được quan tâm đúng mức. Thực ra, xã đã từng khuyến khích họ cho con tham gia lớp học tình thương nhưng vì cuộc sống khó khăn, phải lo cái ăn, cái mặc hằng ngày, cuối cùng họ chấp nhận để con mù chữ. Chuyện giấy khai sinh, xã không thể giải quyết mà phải về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để làm”. Còn theo ông Nguyễn Hồng Tân, Phó trưởng Công an xã Đông Hòa: “Từ khi thực hiện dự án đền bù giải tỏa ở khu vực này, 41 hộ dân xóm Lò Gạch thuộc Đại học Quốc gia quản lý, xã không có trách nhiệm”. Vậy là, dù sự tồn tại của 41 hộ dân ở xóm Lò Gạch là có thật nhưng họ cũng chỉ là những cư dân “vô thừa nhận” và cuối cùng những đứa trẻ gánh chịu thiệt thòi.

Bài và ảnh: Thành Đồng




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), huongviet_ht (03-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), SunFlower (11-04-2009)
  #7  
Old 03-04-2009, 01:16 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

Thầy trò xóm rác An Xuyên
Ở vùng đất mũi Cà Mau có một lớp học “độc đáo” mà thầy học vấn chưa quá lớp 7, vẫn phải làm thuê kiếm ăn từng ngày; còn trò là những đứa trẻ không giấy khai sinh, không hộ khẩu, không cha mẹ... mưu sinh trên bãi rác
Đám trẻ lượm rác & người thầy lớp 7

Từ khi bãi rác thành phố Cà Mau được di dời về ấp 5 (xã An Xuyên, thành phố Cà Mau) thì những người sống nhờ rác cũng lũ lượt kéo về đây mưu sinh.

Ngày ngày bọn trẻ theo cha mẹ lục lọi trong bãi rác nhặt từng cái bọc, chai nhựa, lon bia… để kiếm sống nên chuyện học hành như ước mơ quá tầm tay. Gia đình anh Vương Gia Trang - nhà gần bãi rác - cũng thuộc diện nghèo như bao hộ “xóm rác”. Chồng đi làm thuê, làm mướn, vợ may đồ thuê, bán bánh bao, sinh tố dạo…

Nghèo nên đứa con gái lớn trong gia đình ấy học hết lớp 12 phải tạm nghỉ học. Cuộc sống nghèo khó cơ cực nên anh thấu hiểu được những thiệt thòi của những đứa trẻ con nhà nghèo, nhất là thiệt thòi về “cái chữ”. Thế nên ý nghĩ “cần phải làm một việc gì đó để giúp chúng thoát khỏi cảnh nghèo hèn” cứ thôi thúc anh từng ngày.

Rồi một hôm anh Trang nhớ lại: bọn trẻ ra bãi rác nhận bình ăcqui (chiếu sáng tìm rác ban đêm) đứng như trời trồng trước đống bình có ghi tên mỗi đứa! Lúc đó anh mới té ngửa “đám trẻ không đứa nào biết chữ”. Trang trầm ngâm một hồi rồi bảo: “Không biết chữ thì ngày mai ra chú dạy học cho”. Nói nhưng nghĩ là đám trẻ ấy sẽ không chịu đi học, không ngờ hôm sau chúng lục tục chạy đến cả chục đứa.

Thầy giáo bất ngờ, không có dự định trước nên mọi thứ chưa được chuẩn bị. Trang quyết định đến Trường tiểu học An Xuyên nhờ “tư vấn”. Sau khi trình bày nguyện vọng của mình với ban giám hiệu, thấy đây là việc tốt có ích cho xã hội nên các thầy cô nơi này đều ủng hộ. Không chỉ thế, trường còn hỗ trợ tấm bảng đen và mấy cái bàn. Có thầy, có trò nhưng chưa có phòng học, thế là anh bàn với vợ lấy nhà sau của gia đình làm lớp học.

Có điều chưa một lần dạy học, chưa một lần đứng trước lớp, chữ nghĩa lại chẳng bao nhiêu - anh mới học hết lớp 7 và nghỉ học đã 20 năm nay - nên đêm trước đêm “khai giảng” anh không sao ngủ được.“Hồi nào đến giờ có biết dạy học gì đâu. Không biết đứng trước bọn trẻ mình có run không?”... Nhưng rồi trước ước muốn cháy bỏng “phải đem bằng được cái chữ đến cho bọn trẻ”, Trang bậm môi vào lớp.



Hai nam sinh Nhiêm và Nghĩ chuẩn bị đến lớp
Từ đó dù có bận việc đến đâu anh vẫn dành một ngày hai tiếng đồng hồ, 9g-11g, để lên lớp dạy bọn trẻ. Lúc đầu lũ học trò quen sống ngoài đường phố cứ chạy nhảy, đùa giỡn ồn ào, nói chuyện thô tục làm mẹ anh khó chịu. Anh phải phân trần:“Thông cảm cho bọn nhỏ mẹ ạ!”.

Ngày qua ngày, các em trở nên chăm ngoan; căn nhà tràn ngập niềm vui, tiếng cười hồn nhiên. “Thỉnh thoảng tôi viết chữ trên bảng đôi lúc vẫn còn sai, lắm lúc quên bỏ dấu, học trò ở dưới lại nhắc thầy hoài. Nhưng không sao, khi phát hiện mình bị sai thì chứng tỏ các em đã biết” - anh cười thú thật.

Sĩ số lớp học thay đổi liên tục theo cuộc mưu sinh của bọn trẻ. Hiện nay lớp học có khoảng 20 em. Không chỉ dạy chữ, Trang còn dạy các em điều hay lẽ phải, về nhân cách làm người, nghị lực vươn lên trong cuộc sống, ước mơ tốt đẹp qua những tấm gương người tốt việc tốt cụ thể.

Ước mơ từ bãi rác

“Đám trẻ xóm rác giờ đã thay đổi nhiều lắm! - chị Dương Thị Tho, nhà ở gần xóm rác, nhận xét. Chúng bớt nghịch ngợm, phá phách, hỗn xược với người lớn hay nói tục, cự nự tranh giành với nhau mỗi lần kiếm sống”. Khi chúng tôi ghé lớp, nhiều học trò xóm rác đã đọc vanh vách cho chúng tôi nghe bài học, cặm cụi viết và tính toán những phép tính đơn giản... Cha em Cảnh khoe: “Từ khi đi học, con trai tôi ngoan ngoãn hơn, biết nghe lời và đòi được đi học hoài”.

Thấy bọn trẻ học ngày một đỡ, Trang rất mừng nhưng lo lo. “Khả năng của mình chỉ dạy đến lớp 3, lớp 4 là cùng, còn lên nữa thì... chịu”. Rồi lớp học dạy vậy đó nhưng học sinh không có học bạ, không sổ điểm và cũng chẳng có giấy chứng nhận lên lớp nốt.

Thêm nữa, bản thân các em cũng không có giấy khai sinh, không hộ khẩu. “Khi nghỉ học ở đây các em cũng không có tiền đi học ở những trường lớp thực thụ. Không lẽ cuộc sống của các em sẽ phải tiếp tục nơi bãi rác? Mỗi lần khi nghĩ về các em, tương lai của các em tôi lại ước: giá mà... có một điều ước!”

Bài, ảnh: TẤN THÁI




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), SunFlower (11-04-2009)
  #8  
Old 03-04-2009, 01:20 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

Xóm con nít "bốn không"
TT - "Con có thích chơi búp bê không?". Nghe câu hỏi, cả đám con nít cười ngặt nghẽo. "Búp bê tụi nó đâu có chơi. Tụi nó đánh bài, tắm sông không hà!" - một đứa trả lời.
Cu Hưng bỏ bao rác trên bờ, đặt chân xuống rạch. Nước rạch nhờ nhờ đen gần bằng màu cái quần tà lỏn nhăn nhúm của nó. Mắt thằng bé lăm lăm hướng về chỗ phát ra tiếng cười khúc khích, nơi mấy đứa lớn hơn đang chơi trò đè đầu trấn nước. Hồi ba tuổi, nó còn ngoan ngoãn ngồi trên bờ dòm xuống. Từ ngày lên bốn, cu cậu tự cho mình đủ lớn để lội xuống dòng nước kia.

Mỗi trưa, đám con nít đầu trần chân đất chọn đoạn rạch Bà Tàng làm "hồ bơi" công cộng. Rác lềnh bềnh trên mặt rạch, không hề gì. Từ trong bụng mẹ, những cư dân xóm ve chai đã quen mùi rác. Mở mắt chào đời đã thấy bao rác to lù lù trong phòng trọ. Ba tuổi, có đứa lon ton theo anh chị học nghề. Năm tuổi, chúng biết phân loại được thứ rác nào đắt tiền, thứ rác nào rẻ tiền...

Không khai sinh. Không biết chữ. Không được hưởng chế độ cho trẻ em. Không chuẩn bị tương lai. Hàng trăm đứa trẻ xóm ve chai, khu phố 10, P.5, Q.8, TP.HCM, đã chào đời và cứ thế lớn lên.

Những đứa trẻ không khai sinh

"Giấy khai sinh là gì cô?" - Nam, chín tuổi, hồn nhiên hỏi. Nam là đứa áp út của vợ chồng anh Mì. Anh Mì có bảy con. Bảy đứa đều có những cái tên thật đẹp: Thanh, Sang, Nga, Nguyệt, Duyên, Nam, Hải. Thế nhưng từ nhỏ tới lớn, những cái tên đẹp ấy chưa được ghi vào bất cứ loại giấy tờ tùy thân nào.


Xưa gia đình anh Mì sống lang thang các chợ ở Sài Gòn. Không giấy tờ. Sau đó gia đình lên vùng kinh tế mới ở Bình Phước sinh sống. Sống không nổi, mấy anh em dắt díu nhau về thành phố. Đến giờ, gần 60 người, trong đó hơn 40 trẻ em của đại gia đình anh đều không có tờ giấy lận lưng. Tất cả 40 đứa trẻ ấy đều thất học. Một số gia đình cho biết họ từng có giấy tờ nhưng bị thất lạc rất lâu. Số khác cho biết họ không biết phải làm giấy bằng cách nào.

Vừa biết chạy, chúng đã được trao cho một bao đựng rác. Cái bao sẽ lớn dần theo chiều dài của đôi chân. Từ 6g-18g, những đứa trẻ ấy cúi mặt xuống đường tìm những thứ người khác vứt đi. Anh chị Mì cũng không buồn đưa con tới trường. Bởi đâu ai nhận trẻ không khai sinh, không hộ khẩu; mà lỡ trường có nhận thì lấy ai lượm rác, lấy đâu ra học phí?! Thôi thì cho chúng theo học lớp ban đêm. Không cầu mong chúng nên công cán gì, chỉ để kiếm năm ba chữ. Chỉ năm ba chữ thôi chứ ai cũng hiểu làm sao các em học nhiều hơn khi lớp tình thương mỗi tuần dạy ba đêm, mỗi đêm hơn một giờ đồng hồ!
Con chị Mì vẫn còn may mắn hơn bé Ngô Bé Tuyết. Cô bé một tuổi rưỡi, cân nặng 8kg, đang mang bướu ở hông. Từ khi sinh ra cô bé luôn bị chảy nước mũi, ăn vào bị ói ra, thế nhưng mãi đến hơn một tuổi, mẹ bé mới vay 200.000 đồng đưa con đi khám bệnh. Đó là lần khám bệnh đầu tiên và duy nhất cho đến nay của bé. Bé không khai sinh, không thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới sáu tuổi. Và mẹ bé, một cô gái khuyết tật 19 tuổi, không xoay xở đâu ra tiền để chữa chạy cho con.

Lối hẹp vào đời

Đây không phải là những trường hợp cá biệt. Xóm trọ ve chai này nằm quanh ao cầu tõm. Ước chừng 100 phòng trọ, đều là dân nghèo khổ tứ xứ dạt về. Hầu như nhà nào cũng có vài ba đứa trẻ. Ít lắm, xóm này cũng trên 200 trẻ em. Mỗi em một hoàn cảnh, nhưng giống nhau ở điểm không chọn nơi để chào đời, không giấy tờ, trình độ học vấn!

"Con khoái đi học, đi làm, lấy chồng, nuôi con. Nếu có chữ, con thích vô xí nghiệp làm công nhân may đồ”. "Con thích đi học ban ngày, ban đêm cô không uýnh nên hổng có nhớ chữ". "Con ước cho mẹ con hết tiền góp". Rồi đến những em bé cứ ngơ ngác khi hỏi về ước mơ. Còn chị Hoa không trả lời câu hỏi về những ngày sắp tới mà thở dài kể một câu chuyện. Câu chuyện về giấc mơ của các con: "Tới ngủ tụi nhỏ còn mơ tới ve chai. Nửa đêm, tụi nó cứ mớ: Của tao! Của tao! Tôi mới hỏi chuyện gì, nó trả lời: Nó lấy của con!".

Những em bé vẫn hồn nhiên làm duyên cho tôi chụp ảnh. Những nụ cười rạng rỡ và trong veo trước phông nền chắp vá của vách nhà trọ. Các em vừa có tin vui. Chị Thanh của chúng sẽ lấy một anh thợ hồ làm chồng. Thanh là đứa duy nhất trong bảy đứa con nhà anh Mì không phải đi nhặt rác nữa. Nhưng cô vẫn phải làm nghề tiếp xúc với những thứ thiên hạ bỏ đi: phân loại rác.

Hằng ngày, hàng trăm đứa bé lại quảy bao đi ngang qua những nhà thiếu nhi, khu vui chơi, trường học. "Có bao giờ đi ngang một ngôi trường, con đứng lại nhìn không?" - khi hỏi câu ấy, tôi hi vọng nhận được câu trả lời theo logic thường tình đại loại như con lén nhìn vô xem các bạn học và ao ước được như các bạn. Thế nhưng bé Duyên nhanh nhảu: "Có”. "Khi ấy con nghĩ gì?". "Con nhìn vô coi có thấy ve chai không!".

Câu trả lời rơi lạnh lùng giữa căn nhà trọ ẩm thấp. Có ai đó trong xóm vừa phát hiện nhiễm HIV vì làm nghề bán thân. Nhiều người lớn chợt lo xa khi nhìn những bé gái xinh xắn vẫn lớn lên giữa cái xóm đầy mùi rác thải và củ hành này...

YẾN TRINH




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), SunFlower (11-04-2009)
  #9  
Old 03-04-2009, 01:23 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

Cõng chữ trên đôi chân yếu
(LĐ) - Thức dậy từ lúc 4 giờ sáng để chuẩn bị băng rừng, vượt đèo, lội suối, đi bộ cả chục cây số để đến lớp, về nhà khi trời đã tối đen như mực... tất cả những điều tưởng chừng như chỉ có trong cổ tích.
Thế nhưng đó lại đang là chuyện thường ngày của các em học sinh ở thôn Đa Tro, xã Đa Mi, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Gian nan đường đến trường

Nằm giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng, cách thành phố Phan Thiết 80km, nhưng phải mất 3 tiếng đồng hồ chạy xe máy (từ Phan Thiết), chúng tôi mới lên được đến thôn Đa Tro - thôn vùng xa hẻo lánh nhất của tỉnh Bình Thuận. Con đường đèo dốc ngoằn ngoèo, nhiều đoạn đã hư hỏng nặng, chỉ còn đá lởm chởm, nhấp nhô xen lẫn đất đỏ vừa dính, vừa trơn trượt khiến chiếc xe máy nhọc nhằn leo dốc mặc dù thường xuyên về số 1.

Không khí miền rừng núi bao trùm toàn lối đi, phủ lên những nóc nhà nằm lẻ loi, thưa thớt. Trên đường đi, chúng tôi bắt gặp nhiều em trong độ tuổi đến trường đang đèo gùi lên rừng hái măng hơn là những em đeo cặp sách tới trường. Thấy lác đác học sinh đi bộ, nghĩ rằng gần đấy sẽ có trường học, nhưng hỏi thăm hoài, chúng tôi mới tìm đến được ngôi trường cấp 4 nằm trơ trọi giữa một ngọn đồi. Khoảng cách từ trường đến nơi có mấy em học sinh đang đi bộ kia là hàng chục cây số.

Con đường dẫn lên trường đất đỏ trơn trượt, khoảng 1m bề rộng nhưng lại bị chia làm đôi bởi một đường rãnh nhỏ vì nước mưa xói mòn, hai bên đường, cỏ may chen nhau mọc. Không khí hoang vắng, không có một bảng hiệu đề tên trường, có phòng học cửa mở thông thiên vì không ổ khoá, có phòng im ỉm đóng, cửa sổ bằng kính bị vỡ, phòng ốc mạng nhện, bụi bặm bám đầy, bàn ghế ngổn ngang không theo một trật tự nào, không có bàn giáo viên, giẻ lau bảng lâu ngày không được thấm nước trở nên khô queo... trông giống một khu nhà hoang hơn một trường học.

Trường có 8 phòng học cấp 4, chia làm 3 dãy xếp theo hình chữ U, nhưng chỉ có 2 phòng học là có học sinh, đó là 2 lớp: 6 và 7. Trong lớp, học sinh thưa thớt, lớp 6 có 17 em, còn lớp 7 có 15 em.

Cô Bùi Thị Kim Vân - đang dạy môn tiếng Việt ở phòng lớp 6 - cho biết: "Đây là phân hiệu 2 của Trường Trung học cơ sở Đa Mi, phân hiệu 1 ở dưới Đaguri, cách đây 23km". Theo cô Vân thì năm nay học sinh đi học đông hơn năm ngoái. "Năm ngoái mỗi lớp chỉ có khoảng 7-8 em đi học, nhà trường phải ghép 2 lớp làm 1 để dạy. Năm nay, do mới đầu năm nên tình hình có khá hơn, nhưng cũng không chắc chắn sẽ duy trì được sĩ số lớp vì đường đến trường quá xa, nhiều em không theo học được, càng đến cuối năm, số học sinh càng rơi rụng dần" - cô Vân cho biết thêm.

Khi được hỏi có em nào nhà ở xa trường không, những cặp mắt ngây thơ quay qua nhìn nhau bối rối không trả lời. Tôi hỏi lại: "Có em nào nhà ở cách trường từ 10 cây số trở lên không" thì hầu như tất cả các cánh tay đều giơ lên. Dường như, đối với các em, khoảng cách dưới 10 cây số không được gọi là xa. Đa số các em đều ở rất xa trường, gần thì cách trường 5 - 7km, xa thì tới 15 - 20km, nhưng phương tiện đi lại của các em chủ yếu là đôi chân và... quá giang.

Em Trần Thị Cẩm Giang (cách trường 5km) - học sinh lớp 6 - cho biết: "Em thường quá giang đến trường. Hôm nào không quá giang được thì em đi bộ. Khoảng 1 giờ chiều là em về tới nhà rồi".

Tan học từ lúc 11 giờ trưa, đội nắng cao nguyên suốt cuộc bộ hành về nhà, nước da em nào cũng sạm đen vì nắng. Có em nhà cách trường cả hai chục cây số như trường hợp của Tuấn (lớp 7), ngoài những buổi quá giang được tới trường hay có bố mẹ đưa đón, Tuấn phải cúp học vì không đi bộ nổi. Có lẽ vì đường xa, đi học thất thường nên Tuấn bị đúp lại tới 2 năm. Năm nay đã 15 tuổi, nhưng Tuấn mới học lớp 7.

Có em ở buôn Tà Mỹ, phải đi 5 - 6km đường rừng, có em ở tận "xóm nhà bè" phải chèo thuyền qua sông rồi đi bộ 2-3km nữa mới đến được lớp học. Dậy từ 4-5 giờ sáng, nhịn đói đến trường đối với những học sinh nơi đây đã thành quen. "Vào học lúc 7 giờ, nhưng có những em 8-9 giờ mới tới được lớp. Buổi chiều 5 giờ mới tan, nhưng nhiều em xin về từ 4 giờ vì nhà xa quá, đi về tối sợ không thấy đường để leo đèo. Dạy các em vì tâm huyết, vì thương các em, có thầy cô nào nề hà chuyện giờ giấc sớm hay trễ" - cô Nguyễn Thị Hoàng Diệu, dạy Trường Tiểu học Đa Mi (phân hiệu 1) - tâm sự.

Thôn Đa Tro vẫn chưa có điện do các hộ dân ở cách xa nhau, việc kéo điện sẽ rất tốn kém. Chính vì vậy mà mỗi em đi học đều được bố mẹ trang bị cho một chiếc đèn pin để soi đường khi trời tối. Đêm về, các em bày tập vở học bài bên chiếc đèn dầu tối lù mù.

"Con gái chị nó bị đau khớp mà ngày nào cũng đi bộ 4km tới trường. Ước gì xã có chiếc xe lam đưa đón tụi nhỏ, chi phí hết bao nhiêu thì các chị đóng góp. Nhìn tụi nhỏ đi học vất vả, làm cha mẹ có ai lại không xót" - chị Trần Thị Quyên rơm rớm nước mắt kể.

Nỗi ám ảnh đường xa còn đeo bám dữ dội hơn đối với những em học tiểu học, đặc biệt là những em mới vào lớp 1. Một-hai ngày đầu, bố mẹ đưa các em tới trường cho quen đường, sau đó, dù nhỏ, dù chân yếu các em cũng phải theo các anh chị tự mình tới trường, vì bố mẹ còn bận lên rừng hái măng, làm vườn, làm rẫy...

Xóm trẻ "bốn không"


Tan học, các em đội mưa tự đi bộ về.

Hơn 11 giờ trưa, theo chân em Nguyễn Văn Vũ (lớp 7), chúng tôi đi thuyền tới "xóm nhà bè" - thuộc thôn Đa Tro, nhưng nằm tách biệt như một ốc đảo, xung quanh nước sông bao bọc. Tay chèo thuyền thoăn thoắt, điêu luyện như một ngư dân thực thụ, chừng 40 phút, Vũ đưa chúng tôi về "nhà" của em. 13 tuổi, cậu bé biết chèo thuyền từ năm 7 tuổi.

Hàng ngày, Vũ và em trai Nguyễn Văn Giang (học lớp 6) tự chèo thuyền qua sông đi học, vì bố mẹ các em bận đi thả lưới buông câu từ sáng sớm. Có hôm trưa về, thuyền ngập đầy nước, hai anh em lại hì hục khoát nước ra ngoài.

Nhà ở "xóm nhà bè" là những con thuyền lênh đênh trên sông nước. Mỗi con thuyền bé tẹo là nơi cư trú của một gia đình từ 3 đến 7 người, mọi sinh hoạt của họ đều diễn ra ở trên thuyền. Không ít trẻ em không được đến trường nơi đây đang sống trong tình trạng "bốn không": Không nhà, không hộ khẩu, không điện, không đi học.

Anh Vũ Đình Ban - Trưởng thôn Đa Tro - cho biết: "Xóm nhà bè" là tổ 9 trong 9 tổ tự quản của thôn. (Do dân cư cư ngụ thưa thớt, rải rác khắp 11km chiều dài và 5km chiều rộng nên để tiện cho việc quản lý, anh phải chia thôn làm các tổ tự quản). Những hộ dân nơi đây là di dân tự do, đến tạm cư từ năm 1994. Có 8 hộ từ Campuchia di cư về (năm 2001), còn lại là dân tứ xứ đến, phá rừng làm nương rẫy, lấy diện tích mặt sông của Nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi làm nơi cư trú và sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá.

Theo danh sách thống kê của anh Ban, hiện "xóm nhà bè" có 19 em trong độ tuổi đến trường, trong đó có 5 em trong độ tuổi tiểu học, nhưng số lượng các em đến trường chỉ là 7 em, còn lại là không biết chữ. Nguyên nhân các em không đến trường phần vì bận mưu sinh cùng cha mẹ, phần vì đường đến trường quá xa. Cha mẹ các em cũng không mấy người biết chữ.

"Đặc biệt có 8 hộ từ Campuchia về thì hầu hết đều không biết chữ, cứ mỗi lần phải làm giấy tờ trên thôn, xã thì đều nhờ cán bộ viết giùm" - anh Ban cho biết. Đối với những hộ dân này, anh Ban có kiến nghị lên xã, rồi lên tỉnh để giải quyết vấn đề hộ khẩu cho họ. Ý kiến đưa lên đã được tỉnh chấp thuận và đưa ra phương án giải quyết, nhưng kể từ năm 2004 đến nay, tất cả các phương án vẫn còn nằm "án binh bất động" trên giấy tờ.

Lý giải về vấn đề này, anh Ban cho biết: "Sau khi kiến nghị lên tỉnh thì tỉnh cũng đã dự tính di dời những hộ dân này ra địa bàn thôn để tiện cho việc quản lý và cấp hộ khẩu cho họ, nhưng xã lại chưa có quỹ đất. Nếu tính trung bình mỗi hộ dân cần 200m2 đất để ở và 5.000-10.000m2 đất để làm vườn thì xã không đủ đất, hơn nữa muốn có quỹ đất này thì không còn cách nào khác là buộc phải phá rừng. Diện tích đất cần để chuyển dịch là 2.300ha, nhưng thực tế quỹ đất mới có 1.005ha".

Chưa có đất để di dời, đường đến trường của nhiều học sinh ở "xóm nhà bè" vẫn còn gian nan như những cuộc phiêu lưu trong cổ tích. Có em đi học, cha mẹ phải theo đi học cùng như trường hợp của em Nguyễn Thị Thu Thảo (lớp 3) và em trai Nguyễn Văn Thuận (lớp 2). Thảo học buổi sáng, còn Thuận học buổi chiều, nhưng hai em phải đi học từ sáng sớm để mẹ chở đò đi luôn.

Chị Nguyễn Thị Thuỳ Dương - mẹ của 2 em, đưa 2 em qua đò, sau đó vượt mấy quả đồi mới tới được trường, rồi chị đi bán cá. Trưa, chị quay lại trường đón bé Thảo, mẹ con cùng nhau ăn cơm chị nắm từ hồi sáng, rồi chị và Thảo ngồi chờ đến chiều Thuận học xong, ba mẹ con lại chèo đò về nhà.

"Gia đình chị đã xin cấp hộ khẩu ra ngoài này sống từ hai năm nay, nhưng vẫn chưa thấy gì. Ngày nào cũng phải chèo đò đưa các cháu đi học vì nó còn nhỏ quá, chưa tự chèo được" - chị Dương kể. Con đi học, mẹ cũng phải vất vả theo cùng, nhưng ngày nào chị cũng đều đặn đưa con tới lớp vì "bố nó đã không biết chữ rồi, khổ mấy cũng phải cho các cháu học hành tử tế, biết cái chữ sau này đỡ khổ".

Hà Yên




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), SunFlower (11-04-2009)
  #10  
Old 03-04-2009, 01:26 PM
medotchua's Avatar
medotchua medotchua is offline
Cố vấn nhóm Triệu Quạ Đen
 
Tham gia ngày: Jan 2008
Bài gởi: 865
Cảm ơn: 14
Được cảm ơn: 713
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới medotchua
Default Ðề: Chương trình niềm vui bất ngờ

CÁI NÀY DÀNH CHO HUẾ
Xóm có đến hàng trăm con người cùng cảnh sống tạm bợ và nghèo khó; không hộ khẩu, không giấy chứng minh nhân dân với những ngôi nhà rách nát ở ngay trong khu quy hoạch Đại học Huế. Đó là xóm Cồn, bây giờ là tổ 21, khu vực 4, phường An Cựu, thành phố Huế.

Tổ 21, khu vực 4 có 168 hộ, hơn 890 nhân khẩu với đa phần là những người dân từ các phường của thành phố Huế trôi dạt về xóm Cồn. Phần lớn trong số đó là những cư dân vạn đò từ các phường như Vĩ Dạ, Phú Hiệp, Phú Bình... di tản tự phát kể từ năm 1989, 1990 do đò mục, sợ gặp bão lũ...

Trong số đó có đến 103 hộ (hơn 500 khẩu) đang sống chỉ bằng giấy tạm trú và những nghề tạm bợ như xích lô, xe thồ, phụ hồ, làm thuê, bán dạo, bán thuê. Trẻ em mới vài tuổi đầu đã lăn lê khắp các ngả đường kiếm sống với vé số, lượm ve chai, đánh giày... nên trong hàng trăm trẻ, số đến trường được cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ở xóm Cồn, khi cần tiền vay để làm ăn, hoặc lo chuyện bất trắc đột ngột, người dân thường tìm tới các chủ cho vay nóng.

Tổ trưởng tổ 21 Lê Ngọc Thuận cho biết ở đây đã được quy hoạch xây dựng Đại học Huế từ năm 1996; chỉ có chừng 10 hộ dân sau này đến ở liều, còn đa phần hộ dân đều đến ở trước đó, “Nhà nước hứa đền bù giải tỏa tái định cư nhưng nhiều năm rồi vẫn chưa thấy triển khai”.

Chính vì vậy nhiều năm nay bà con vẫn cắn răng chịu cảnh sống tạm bợ, nhà không được sửa chữa, cơi nới một tí thôi là bị phạt. Ở đây người dân phải trả tiền điện với giá cao gấp bốn lần, nước sinh hoạt cao gấp sáu lần giá quy định.

Tổ trưởng Thuận nói: “Tối thiểu như tấm chứng minh nhân dân mà chẳng mấy người có được”. Vậy nên nhiều người đành sống cảnh “người lậu” nơi xóm Cồn. Trả lời về việc giải quyết hộ khẩu cho người dân “xóm tị nạn”, ông Nguyễn Văn Thành, chủ tịch UBND phường An Cựu, nói việc này dường như quá khó.

Tại kỳ họp HĐND tỉnh Thừa Thiên - Huế, lãnh đạo Đại học Huế đã có văn bản giải trình ý kiến chất vấn cử tri và hứa rằng dự kiến trong quý 1/2005 sẽ “hoàn thành và thông qua dự án đầu tư hạ tầng khu tái định cư cho các hộ dân trong khu vực quy hoạch (trong đó có tổ 21, An Cựu) trình UBND tỉnh phê duyệt và làm thủ tục đầu tư để giao đơn vị có chức năng đầu tư hạ tầng của tỉnh thực hiện”. Thế nhưng nay đã là quý 4, mọi việc gần như vẫn giẫm chân tại chỗ.

(Theo Tuổi Trẻ)




Buồn ơi nếu ngươi là vật chất
Ta là người giàu nhất thế gian
Trả Lời Với Trích Dẫn
Cảm Ơn: medotchua
beyeuk27a (09-04-2009), keke (03-04-2009), kemetruyen (03-04-2009), nothing (10-06-2009)
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở

Chuyển đến